Bưu điện Nam Trung Bộ và Trị Thiên trong thời kỳ chống mỹ (1954-1975)

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Nam Trung bộ luôn là địa bàn chiến lược quan trọng, nối liền miền Bắc – hậu phương lớn của cả nước – với Nam Bộ thành đồng Tổ quốc, đây là vị trí chiến lược không những đối với Việt Nam mà cả vùng Trung Đông dương nên từ 1955-1975 đế quốc Mỹ lấy Nam Trung Bộ làm địa bàn chính ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, làm đầu cầu để đánh phá miền Bắc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, hơn 20 năm kiên trì chiến đấu, quân và dân Nam Trung Bộ đã cùng quân dân miền Nam và quân dân cả nước đánh bại hết chiến lược chiến tranh này đến chiến lược chiên tranh khác của địch, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó trên một địa bàn quan trọng.

 

I.     Chuyển hướng tổ chức, xây dựng lực lượng phục vụ đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng (1954-1960)

Trong kháng chiến chống Pháp, Nam Trung Bộ có vùng tự do rộng lớn, là hậu phương trực tiếp của cuộc kháng chiến khu vực, có bộ máy chính quyền các cấp hoàn chỉnh, có lực lượng vũ trang và cán bộ, đảng viên hoạt động công khai. Mạng lưới thông tin liên lạc phát triển tương đối chính quy. Mỗi tỉnh có Ty Bưu điện và các phòng Bưu điện huyện, có thông tin bưu chính và điện chính, các tuyến giao liên hay đường thư liên tỉnh cũng như nội tỉnh hoạt động đều, thông tin điện chính ngoài mạng VTĐ, còn có một số tuyến thông tin hữu tuyến được xây dựng ở các vùng tự do.

 

1.    Chuyển hướng tổ chức, phục vụ chuyển quân tập kết

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, bưu điện các tỉnh Nam Trung Bộ ngoài việc sắp xếp lại tổ chức theo hướng chỉ đạo chung của Khu ủy và Tỉnh ủy, phải bố trí cán bộ phục vụ theo yêu cầu chính trị của tỉnh và khu vực cho phù hợp với tình hình mới: vừa giữ hệ thống liên lạc bí mật, đồng thời tổ chức hệ thống liên lạc “nhân dân” để xây dựng, tạo thế đứng thuận lợi phục vụ kịp thời cho lãnh đạo. Mỗi tỉnh phải có mạng lưới giao liên giữ việc liên lạc giữa các vùng trong tỉnh, giữa các tỉnh với nhau và đi vào Nam ra Bắc. Phần lớn cán bộ từ cấp ủy, đến trưởng phòng các huyện thuộc diện tập kết. Một số cán bộ được bố trí tập kết trước, một số ở lại lo bàn giao cho đối phương và phục vụ công tác chuyển quân tập kết. Tuy còn nhiều băn khoăn, lúng túng chưa giải đáp được, nhưng hầu hết cán bộ, nhân viên đều tự nguyện nhận nhiệm vụ mới.

Theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ, Bình Định thuộc khu vực 300 ngày tập kết của các lực lượng vũ trang, cán bộ tỉnh và Liên khu V trước hi lên tàu ra Bắc. Ngành Bưu điện Bình Định sắp xếp lại tổ chức, bố trí cán bộ phục vụ cho yêu cầu chính trị của tỉnh và khu vực, trong khi địch ra sức gây khó khăn bằng bắt coc cán bộ, thay đổi địa chỉ bàn giao khiến đường dây liên lạc bị đứt luôn, anh em giao bưu luôn phải tìm cách đấu nối lại vất vả, nguy hiểm vô cùng.

 

2.   Phục vụ công cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp định, bảo vệ thành quả cách mạng

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chuyển lệnh ngừng bắn và bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ chỉ đạo công tác tập kết trong toàn khu, lực lượng giao thông liên lạc ở Nam Trung Bộ triển khai thực hiện các nhiệm vụ mà Khu ủy và Tỉnh ủy đề ra.

Sẵn có kinh nghiệm của 9 năm kháng chiến chống Pháp, Ban Cán sự Đảng các tỉnh đã triển khai nhanh chóng mạng lưới giao bưu. Các CBNV làm công tác giao liên được tuyển chọn kỹ lưỡng theo các tiêu chuẩn: có lập trường, ý thức tổ chức và tinh thần trách nhiệm cao, có đủ sức khỏe để đảm đương công tác lâu dài.

Theo quy định của Hiệp định, trong 60 ngày đêm (từ ngày tiếp quản) hai bên rút quân về vùng tập kết, giới tuyến Vĩnh Linh còn bỏ ngỏ, nhân dân 2 miền được tự do qua lại, chưa có sự kiểm soát. Lợi dụng thời cơ, Vĩnh Linh hình thành đường dây bí mật qua lại giới tuyến một cách hợp pháp, đồng thời xây dựng một số cơ sở bí mật tại Nam giới tuyến. Cuối năm 1954, ngụy quyền Sài Gòn kiểm soát chặt chẽ việc qua lại giới tuyến khiến anh em giao liên phải mở đường khác, vượt rừng băng núi… Bên cạnh các tuyến đường bộ, đường sắt, đường biển, Khu ủy chủ trương xây dựng các tuyến đường dây hành lang liên tỉnh nối liên lạc từ TW đến Liên khu V và các tỉnh trong khu, đồng thời vừa xây dựng mạng lưới thông tin, vừa xây dựng cơ sở cách mạng tại các tỉnh.

 

3. Phục vụ phong trào đấu tranh vũ trang

Trước những thử thách vô cùng khó khăn, ác liệt, anh em giao liên vẫn quyết tâm thực hiện mọi nhiệm vụ Đảng giao. Vì vậy sau mỗi lần đường dây bị đứt, anh em lại tìm cách nối lại. Bám dân, bám cấp ủy, anh em vừa xây dựng vừa tìm cách lập các tuyến giao liên mới. Trong hàng ngũ giao liên, nhiều tấm gương hy sinh chói lọi đã củng cố lòng tin tất thắng của nhân dân.

Cuối năm 1958, Liên khu ủy chủ trương đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở miền núi, xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang. Ban Giao bưu Vận Liên khu được thành lập, các tỉnh thành lập các Ban phụ trách hành lang. Sự ra đời Ban Giao bưu Vận khu cũng như Ban Hành lang các tỉnh là một bước phát triển mới về tổ chức của lực lượng giao liên ở Liên khu V, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của tất cả anh em làm công tác giao liên từ hợp pháp, nửa hợp pháp đến bất hợp pháp, tạo nên sự chuyển biến căn bản về xây dựng mạng lưới liên lạc. Ngoài việc làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, vận chuyển vũ khí, anh chị em còn phải lo sản xuất, chăn nuôi để có lương thực cho bản thân và cung cấp cho cán bộ qua lại. Tuy có nhiều khó khăn nhưng cán bộ, nhân viên giao liên đã biết dựa vào sức dân, được nhân dân giúp đỡ nên đã vượt qua.

Trước tình hình cách mạng miền Nam có nhiều chuyển biến mạnh, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Nhu cầu về thông tin liên lạc, điện báo ngày càng đòi hỏi phải có sự nỗ lực lớn, đảm bảo thông tin giữa Liên khu ủy với tất cả các hướng. Khối lượng điện báo tăng rất nhanh có khi tới 300 bức điện/24 giờ. Quy ước liên lạc phải thay đổi luôn để khỏi bị phát hiện, nhưng điện báo viên thiếu, máy móc lại hư hỏng luôn. Để khắc phục khó khăn, Ban Thông tin các tỉnh đều cố gắng tự đào tạo báo vụ viên, phong trào thi đua sáng kiến cải tiến kỹ thuật được phát động, nhiều sáng kiến cải tiến có giá trị ra đời. Nhờ vậy, mặc dù địch phát động rầm rộ chiến dịch tố cộng tấn công Đảng Cộng sản và phong trào đấu tranh của nhân dân với những thủ đoạn cực kỳ gian ác nhưng thông tin điện báo vẫn không bao giờ đứt. Các Tỉnh ủy, Huyện ủy tuy có lúc bị tổn thất, nhưng vẫn duy trì được hệ thống chỉ đạo từ trên xuống dưới, giữ gìn và tích lũy được lực lượng, tạo cơ sở, chuyển phong trào lên thế tiến công.

 

II.    Thông tin liên lạc phục vụ chỉ đạo đánh thắng “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ngụy (1961-1965)

Giữa năm 1961, chiến trường Nam Trung Bộ được Bộ chính trị quyết định tổ chức lại, công tác thông tin liên lạc được tăng cường và củng cố, vừa phục vụ trước mắt vừa có kế hoạch mở rộng mạng lưới.

 

1. Phát triển mạng lưới, xây dựng đội ngũ

Từ cuối 1961, các tỉnh lần lượt thành lập Ban giao bưu để thống nhất chỉ đạo các tuyến hành lang sẵn có và tiếp tục mở những hướng mới về đồng bằng, đô thị, nhằm phục vụ tốt các yêu cầu chỉ đạo của các tỉnh, khu và TW trong tình hình mới. Cùng với việc thành lập Ban Giao bưu tỉnh, Đảng ủy Ngành cũng được thành lập ở một số tỉnh và trực thuộc khối Dân-Chính-Đảng của tỉnh. Chi bộ ở các tuyến lấy trạm làm đơn vị. Nơi ít đảng viên thì bố trí sinh hoạt ghép giữa các trạm với nhau. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Đảng ủy và Thủ trưởng Ban quyết định củng cố, phát triển mạng lưới giao liên toàn tỉnh.

Năm 1961, năm chuyển biến từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng. với những cố gắng của toàn Đảng, toàn dân, lực lượng giao liên ở Liên khu V đã phát triển nhanh chóng. Mạng lưới đường thư ngày càng được củng cố và phát triển. Bước đầu hình thành 3 mạng: mạng đường trục chiến lược Bắc-Nam, mạng liên tỉnh và mạng nội tỉnh, có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, có bộ máy lãnh đạo từ trên xuông dưới. Trong bước đầu xây dựng, lực lượng giao liên của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên đã mỗi ngày một lớn mạnh, đảm nhiệm và hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng giao cho, dù có khó khăn gian khổ đến mấy cũng không từ.

 

2. Bám sát cơ sở phục vụ cao trào nổi dậy giải phóng nông thôn

Từ cuối năm 1962 đến cuối năm 1963 có một số thay đổi về địa giới hành chính của một số tỉnh, do đó mạng lưới giao liên cũng có sự sắp xếp lại cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Các Ban Giao bưu của tỉnh và Khu tiến hành nhiều biện pháp: Ngoài các tuyến hành lang sẵn có, tiến hành khai thông thêm những tuyến đường mới ở vùng ráp gianh; tổ chức một số trạm ở phía trước có nhiệm vụ phối hợp với các địa phương đánh địch, phá ấp, mở hành lang liên lạc xuống đồng bằng; Liên hệ với các Huyện ủy tuển chọn thanh niên ở những vùng mới giải phóng, bổ sung nhan lực cho các trạm, tuyến; Tăng thêm một bước chất lượng hệ thống các hành lang. Sẵn sàng chiến đấu để đường dây liên lạc không bị gián đoạn.

Cùng với sự phát triển của các tuyến hành lang và hệ giao liên bất hợp pháp, hệ giao liên hợp pháp được củng cố và phát triển để phục vụ cho sự chỉ đạo của các cấp trong vùng địch kiểm soát. Những chiến sĩ giao liên hợp pháp được tổ chức từ nhiều thành phần với đủ mọi lứa tuổi và hầu hết đều hoạt động đơn tuyến, đường dây này có địa bàn hoạt động khá rộng. Đối phó với mọi âm mưu phá hoại của địch, lực lượng giao liên bất hợp pháp được tổ chức lực lượng hợp pháp, khi cán bộ đi vào địch kiểm soát đều do giao liên hợp pháp đảm nhiệm dẫn đường. Vì vậy, khi địch càn quét, bao vây, các cấp ủy từ khu đến huyện phải chuyển địa điểm, nhưng mọi liên lạc vẫn được thông suốt.

Từ năm 1961 đến 1963, sự chi viện về người, về của từ miền Bắc cho phong trào cách mạng miền Nam ngày càng nhiều. Chỉ riêng trên tuyến giao liên chiến lược Bắc-Nam đã có hơn 4 vạn cán bộ, chiến sĩ quân đội và hàng nghìn cán bộ Dân, Đảng, nhân viên kỹ thuật… hành quân vào đến chiến trường.

Song song với hệ thống giao liên, Khu ủy khu V thường xuyên củng cố hệ thống liên lạc bằng VTĐ để giữ liên lạc với cấp tỉnh và chỉ đạo phong trào các địa phương nhanh chóng. Mạng lưới VTĐ phát triển mạnh từ khu xuống tỉnh, huyện đảm bảo sự liên lạc giữa các cấp Ủy. Tuy nhiên, so với yêu cầu thông tin VTĐ vẫn còn thiếu và nhiều nhược điểm, mặc dù đến năm 1960 qua đấu tranh vũ trang chúng ta đã thu được một số máy 15W của địch. Mạng VTĐ hầu hết là điện đài sóng ngắn, tần số quá hẹp, lại phụ thuộc thời tiết nên thường nhiễu lẫn nhau. Với một chiến trường nhiều địa hình phức tạp như Nam Trung Bộ, phương tiện liên lạc phục vụ cho chỉ đạo, chỉ huy nhanh nhất vẫn là VTĐ nên ngay từ đầu anh em cơ công, điện báo viên đã phải mày mò nghiên cứu sử dụng tần số sóng ngắn sao cho phù hợp với địa hình và thời tiết. Từ sau phong trào đồng khởi 1964, 1965, cán bộ và điện báo viên các đài VTĐ càng nhận rõ trách nhiệm của mình, dù khó khăn thế nào cũng phải bảo đảm thông tin liên lạc chỉ đạo, chỉ huy bằng các phương tiện thông tin hiện có.

Trước yêu cầu phát triển của mạng lưới thông tin VT Đ toàn miền, nhu cầu nhân viên kỹ thuật, điện báo viên đòi hỏi rất lớn. Nhằm đáp ứng những yêu cầu trước mắt, các cụm, hoặc cụm đài đã tổ chức đào tạo tại chỗ. Trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ mở được trường lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ bổ sung lực lượng cho các đơn vị địa phương là một cố gắng vượt bậc. Thày dạy thì thiếu tài liệu, học cụ nên việc huấn luyện theo phương châm: truyền đạt cho anh em mọi điều mà mình biết và cần thiết, phù hợp với trang bị hiện có, nhưng hướng theo điều kiện trang bị mới trong tương lai.

 

III.    Vừa chiến đấu vừa xây dựng, phục vụ đắc lực cho chỉ đạo đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ ngụy (1965-1968)

Thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ ngụy chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, tháng 3/1965 Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành TW quyết định: “Động viên quân  và dân cả nước phát triển thế chủ động tiến công địch”.

 

1. Tiếp tục xây dựng lực lượng theo hướng chính quy

Các hội nghị “Kiện toàn ngành Giao thông liên lạc” của các Ban giao bưu khu và Tỉnh xác định những nhiệm vụ chính của ngành Giao bưu trong tình hình mới đều nhận định, đánh giá thời gian qua tuy Ngành gặp nhiều khó khăn: bộ máy mới được củng cố đã phải đảm nhiệm công việc rất nặng nề, nhưng đã vượt qua khó khăn, phục vụ kịp thời các yêu cầu của Đảng, được Đảng tin cậy, nhân dân thương mến. Tuy nhiên về mạng lưới các tuyến hành lang được mở thêm nhiều nhưng quân số thiếu và yếu về chuyên môn. Do đó công tác giáo dục, xây dựng cần phải tiến hành thường xuyên. Trong giáo dục phải nắm những đặc điểm và yêu cầu chung về ngành: tính cơ mật và tinh thần sẵn sàng chiến đấu cao; bảo đảm liên lạc 2 chiều thông suốt, kịp thời bí mật, an toàn. Mục tiêu là tất cả cán bộ, nhân viên trong Ngành phải vững vàng về tư tưởng, giỏi về kỹ thuật nghiệp vụ, nghiêm về kỷ luật và mạnh về tổ chức. Có như vậy ngành Giao bưu mới làm tròn trách nhiệm chính trị trong thời kỳ mới của cách mạng.

Đi đôi với việc củng cố, phát triển các tuyến giao liên, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhân viên giao bưu được chú trọng. Bên cạnh việc đào tạo tại chỗ, từ năm 1965 được TW tăng cường cán bộ từ miền Bắc vào, Ban Giao bưu khu V mở các lớp huấn luyện chuyên môn cho anh chị em làm công tác giao liên để dần dần đi vào chính uqy hóa việc giao nhận, chuyển phát tài liệu, công văn, bưu phẩm bưu kiện.

Qua kinh nghiệm chống chiến tranh đặc biệt, các Khu ủy, Tỉnh ủy rất quan tâm đến việc phát triển, xây dựng mạng lưới thông  tin VT Đ. Được sự tăng cường chi viện của miền Bắc về thiết bị, nhân lực cùng với số máy VT Đ chiến lợi phẩm, hệ thống thông tin VT Đ miền Nam Trung Bộ có nhiều phát triển mới. Đây là thời kỳ mạng thông tin VT Đ phát triển đều khắp ở miền Trung. Mọi công tác chuẩn bị thông tin liên lạc (cả giao bưu và VT Đ) phục vụ cho cuộc chiến đấu mới của quân và dân miền Nam Trung Bộ đã hoàn thành về cơ bản. Mặc dù còn rất thiếu thốn, nhưng đã sớm tổ chức, đức rút kinh nghiệm, qua những năm tháng đánh thắng hoàn toàn “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ngụy, 2 ngành Giao bưu vận, VT Đ miền Nam Trung Bộ sẵn sàng đi vào cuộc chiến đấu mới.

 

2. Lấy hành lang làm chiến trường, lấy chuyển vận công văn tài liệu, đưa đón cán bộ làm mệnh lệnh chiến đấu

Mùa khô 1966, Nam Trung Bộ là trọng điểm càn quét đánh phá của địch, nhưng dù khó khăn đến đâu, dù phải hy sinh các chiến sĩ giao bưu cũng không để mất liên lạc. Ngành Giao bưu vận toàn miền Nam Trung Bộ đã lấy hành lang làm chiến trường, kế hoạch chuyển nhận công văn tài liệu, đưa đón cán bộ là mệnh lệnh chiến đấu, cung đố và thời gian là kỹ thuật, nơi địch đánh phá, đồn bốt địch và thiên nhiên gây trở ngại là điểm quyết chiến. Cùng với đội công tác địa phương, anh chị em giao liên vẫn ngày đêm len lỏi, soi lại các cung đường bí mật, xây dựng trạm trại, đào hầm bí mật cất dấu tài liệu, đào công sự tránh phi pháo, phối hợp với nhân dân bố phòng đánh địch. Hàng loạt các biện pháp được đề ra và thực hiện nghiêm túc đã đảm bảo an toàn cho cán bộ và chuyển hàng đến đúng địa chỉ an toàn.

 

3. Phục vụ Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Tháng 1/1968, sau khi phân tích tình hình mọi mặt, TW Đảng quyết định mở cuộc tổng tấn công nổi dậy Xuân Mậu thân 1968. Để đảm bảo thông tin liên lạc vững chắc kịp thời cho công tác chỉ đạo chiến dịch, Ban Giao bưu, Ban thông tin các tỉnh khẩn trương tiến hành công tác chuẩn bị.

Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy nổ ra khắp mặt trận miền Nam từ Trị Thiên đến Sài Gòn. Tuy lần đầu tiên tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc phục vụ cho một chiến dịch có quy mô lớn nhưng các hành lang phục vụ chiến dịch vẫn thông suốt, các đài vô tuyến hoạt động liên tục, bảo đảm thông tin kịp thời giữa bộ chỉ huy chiến dịch đến tất cả các địa phương và đơn vị trong tỉnh. Trong cuộc Tổng tấn công, Bộ tư lệnh Quân khu V đã sử dụng hệ thống thông tin liên lạc của cả dân sự và quân sự tổ chức bằng VT Đ sóng ngắn kết hợp với hệ thống giao liên. Những thắng lợi lớn của cuộc Tổng tiến công, lực lượng giao liên, thông tin VT Đ Nam Trung Bộ đã góp phần xứng đáng trong giai đoạn chiến tranh hết sức gay go, quyết liệt của đất nước. Nhiều đơn vị, cá nhân của cả 2 ngành Giao Bưu và VT Đ đã được Ủy ban TW Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam  Việt Nam tặng thưởng huân chương.

 

IV.    Thông tin liên lạc góp phần đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ (1969-1972)

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân của quân và dân ta khiến cho chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ bị đánh bại, Mỹ phải chuyển sang thực hiện chiến lược “việt Nam hóa chiến tranh”, đây là mưu đồ chiến lược thâm độc của đế quốc Mỹ nhằm kéo dài chiến tranh xâm lược, từng bước rút hết quân Mỹ khỏi Đông dương mà ngụy quân, ngụy quyền vẫn mạnh lên.

 

1. Khẩn trương củng cố đội ngũ, chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt bước vào giai đoạn mới

Đầu năm 1969, trên các đường “hành lang” của ta, địch đánh phá dữ dội bằng đủ mọi thủ đoạn, hình thức. Tuy nhiên địch càng đánh phá ác liệt, việc đảm bảo thông tin liên lạc lại càng đòi hỏi phải đạt chất lượng cao. Theo chủ trương của cấp Ủy, hệ thống hành lang trục các tỉnh chia ra làm 2 tuyến: tuyến phía trước có nhiệm vụ liên lạc chặt chẽ, gắn bó với trạm tỉnh, quân bưu, trạm huyện; giữa hệ hợp pháp và bất hợp pháp “hỗ trợ nhau”. Những vùng trọng điểm “Bình định” của địch, anh chị em giao liên cùng các Đội Công tác xây dựng một số trạm mới, hoặc “cơ sở đầu mối” để đưa các tuyến trục vươn sâu vào thành thị, vùng giáp ranh, vùng tạm bị chiếm. Những tuyến đi qua vùng có nhiều đồn bốt địch, các trạm phải tổ chức đào hầm bí mật, nơi ở, có biện pháp đảm bảo an toàn cho người và tài liệu khi gặp địch. Mỗi khi đi làm nhiệm vụ giao liên phải ngụy trang, mang theo vũ khí tự vệ. Một số tuyến anh em phải thực hiện ở không lán, đi không dấu, nấu không khói. Cuộc chiến đấu giữa địch và ta, giữa “Bình định” và “chống bình định”, giữa lấn đất, kiêm soát dân, giam giữ  dân và giữ quyền làm chủ diễn ra gay go quyết liệt, dai dẳng hết tháng này đến tháng khác. Lực lượng giao liên thông tin nhiều nơi bị tổn thất nặng, nhân lực thiếu, công việc nhiều lại đói cơm, lạt muối phải ăn quả và rau rừng, đốt cỏ tranh lấy than ăn thay muối…khó khăn gian khổ vô cùng. Nhưng được sự quan tâm của các cấp ủy, các trạm luôn được bổ sung quân số, tuy các trạm luôn luôn phải thay đổi địa điểm, nhưng người này ngã xuống người khác đứng lên. Nhiều sáng kiến ra đời khắc phục được khó khăn. Lực lương jgiao liên hợp pháp có bước phát triển mới cả về tổ chức và nghiệp vụ, những lúc giao liên bất hợp pháp khong đi được, nhờ có hệ giao liên hợp pháp nên mọi việc vẫn thông suốt.

Càng về sau, công việc của giao liên hợp pháp không chỉ có chuyển giấy tờ, công văn, dẫn cán bộ ra vào thành phố, mà còn phải làm nhiệm vụ của một cán bộ quận, huyện, tiếp thu chủ trương của cấp Ủy rồi truyền đạt xuống cơ sở, lại vừa làm nhiệm vụ dân công để vận chuyển chất nổ vũ khí, có những giao liên trở thành biệt động thành hay du kích mật tham gia đánh địch hoặc là cán bộ binh vận đấu tranh chính trị.

 

2. Phục vụ chỉ đạo chống phá “Bình định”

Qua 2 năm củng cố và chiến đấu chống âm mưu và biện pháp chiến lược mới của địch, trong điều kiện thế lực của ta trên chiến trường miền Nam bị giảm sút, là thời kỳ đầy khó khăn thử thách của những người làm công tác giao bưu và VT Đ ở các tỉnh Nam Trung Bộ, được sự giúp đỡ hết lòng của nhân dân, của cấp ủy, sự tăng cường lực lượng và vật chất của hậu phương miền Bắc, ngành Giao bưu và VT Đ Nam Trung Bộ đã vượt qua khó khăn ác liệt, giữ vững thông tin trên chiến trường. Năm 1971, mạng lưới thông tin, giao bưu không những giữ được các tuyến hành lang quan trọng mà còn phát triển thêm một số tuyến, trạm, đài. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ tác chiến ở chiến trường miền Nam, Tổng cục Bưu điện đã điều động chi viện cho miền Nam một khối lượng vật tư kỹ thuật, thiết bị ngày một nhiều hơn. Các đài VT Đ ở miền Nam được thay đổi trang bị, nâng cao chất lượng thông tin. Ban Thông tin liên lạc các khu đã tập trung mọi khả năng xây dựng, củng cố các mạng thông tin ở các tỉnh không những về thiết bị mà cả về nhân lực. Ban Giao bưu các tỉnh quan tâm xây dựng các trạm trở thành trạm 4 tốt. Những tuyến hành lang nào trước đây do bị địch đánh phá phải đi vòng tránh thì nay tìm cách nắn lại, rút ngắn hành trình vận chuyển thư, công văn thường, công văn hỏa tốc, bưu phẩm bưu kiện….

 

3. Phục vụ cuộc Tổng tấn công chiến lược 1972

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trong xuân hè 1971 đã dẫn đến thay đổi quan trọng trong cục diện chiến tranh. Chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ thất bại. Trên chiến trường miền Nma Mỹ ngụy phải chuyển hẳn vào thế phòng ngự. Quân viễn chinh tiếp tục rút khỏi chiến trường. Sức chiến đấu của quân ngụy Sài Gòn sa sút về nhiều mặt.

Để thúc đẩy chiều hướng phát triển của tình hình, Hội nghị quân ủy TW tháng 6/1971 nghiên cứu tình hình và quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam. Phục vụ cho chiến dịch, giao bưu và VT Đ các tỉnh có những phát triển mới. Ban Giao bưu lập thêm nhiều trạm, làm nhiệm vụ bám đường, nắm tình hình địch. Các huyện huyện có tổ giao liên làm nhiệm vụ móc nối các trạm liên tỉnh giao nhận công văn, đưa đón cán bộ, các xã có liên lạc viên phục vụ nội bộ và chuyển công văn đột xuất. Các Ban thông tin VT Đ khu tăng cường lực lượng, các đài VT Đ có thêm trang bị mới, tổ chức thành những cụm đài hỗ trợ nhau, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt. Nhờ tổ chức hệ thống thông tin liên lạc chặt chẽ, nên đã bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt từ đầu đến cuối chiến dịch, góp phần hoàn thành nhiệm vụ trong cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1972.

 

V.    Phục vụ tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 – kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến (1/1973 – 4/1975)

 

1.    Từng bước chính quy hóa các nghiệp vụ chuẩn bị thế và lực mới

Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ đã thất bại buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, rút hết quân Mỹ và chư hầu khỏi miền Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Nhưng sau khi ký kết, chính quyền Sài Gòn vẫn ngoan cố ra sức phá hoại hiệp định một cách có hệ thống.

Trước lời kêu gọi của Ban chấp hành TW Đảng về “tăng cường đoàn kết, đề cao cảnh giác, củng cố thắng lợi đã giành được hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà”, Ban Giao bưu khu V mở những đợt sinh hoạt chính trị lớn, quán triệt tinh thần cơ bản về quan điểm cách mạng bạo lực và tư tưởng cách mạng tiến công, tạo thế và lực để sẵn sàng phục vụ cho những cuộc tiến công lớn khi thời cơ đến, kịp thời uốn nắn những lệch lạc về tư tưởng, rút ra những bài học trong việc tổ chức xây dựng Ngành.

Về thông tin điện chính, các khu thu phát cố định được củng cố, các cụm đài cơ động được trang bị tốt hơn. Người tốt, máy tốt được tập trung cho những đài xa hoặc lưu động để giữ được liên lạc vững chắc với Khu ủy, Tỉnh ủy và Ban. Đẩy mạnh nghiên cứu bổ sung những quy định, quy ước về liên lạc thống nhất trong toàn khu. Vô tuyến sóng ngắn đã phát huy tác dụng giữ vững liên lạc từ Khu ủy, Tỉnh ủy đến TW và TW Cục. Ban Thông tin đề ra chủ trương và phổ biến xuống tận các đài lẻ: Ra sức sửa chữa khôi phục những phương tiện, thiết bị hư hỏng, tận thu chiến lợi phẩm, từng bước điều chỉnh và cải tiến việc trang bị thống nhất theo nhiệm vụ, quản lý và sử dụng tiết kiệm hàng chi viện của miền Bắc.

Mạng lưới giao liên cũng phát triển, hệ giao liên hợp pháp được củng cố, kiện toàn. Ban Giao bưu khu quyết định: “Tổ chức các tuyến hành lang theo phương châm “tinh, gọn”, phát triển đến đâu thì củng cố đến đó, giữ vững hệ thống hợp pháp và bí mật, tùy theo tình hình từng tuyến mà tăng cường phương tiện hay đặt thêm trạm, tăng thêm người. Việc khai thác bưu chính dần dần đi vào nền nếp theo hướng chính quy hóa, tất cả nhằm mục tiêu: hiệu suất và chất lượng cao.

 

2.     Phục vụ chỉ đạo đánh địch lấn chiếm, hoàn tất nhiệm vụ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975

Sau Hiệp định Pa-ri, ở vùng địch kiểm soát, nhiều cuộc đấu tranh của đông đảo các tầng lớp nhân dân dưới nhiều hình thức phong phú và diễn ra rộng khắp, sôi nổi đòi dân sinh dân chủ gắn liền với hòa bình, đòi thi hành Hiệp định, chống bắt lính, chống khủng bố. Phối hợp với các cuộc đấu tranh của nhân dân, lực lượng giao liên cùng với các đội công tác đi vào vùng địch kiểm soát, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động binh lính, chống địch càn quét và giữ liên lạc với cơ sở.

Về công tác thông tin liên lạc, đầu năm 1975, Khu ủy khu V chủ trương thành lập Ban Bưu điện khu V để thống nhất 2 lực lượng giao bưu và thông tin trong toàn khu. Đầu tháng 3/1975, ban Bưu điện khu V triệu tập cuộc họp toàn Ngành và bàn kế hoạch phục vụ chiến dịch Mùa Xuân 1975. Công tác chuẩn bị và thực hành tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc trên chiến trường khu V và Tây Nguyên trở nên hết sức khẩn trương. Để đảm bảo bí mật tuyệt đối cho hướng chủ yếu của chiến dịch, theo chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, từ đầu tháng 10/1974, ở chiến trường Tây nguyên hạn chế liên lạc VT Đ, không tăng thêm đối tượng và số lượng điện báo, thay vào đó là tăng cường trực canh, thu nghe CQ và chỉ lên máy khi thật cần thiết. Chỉ thị này không chỉ áp dụng cho lực lượng vũ trang mà ngay cả hệ thống thông tin vô tuyến của các cấp ủy cũng phải thực hiện nghiêm chỉnh. Lực lượng giao liên ở 3 tỉnh phải tăng chuyến thư đường trục, đi trực tuyến, giữ vững liên lạc với các huyện thị và lực lượng vũ trang. Giữa giao liên hợp pháp và bất hợp pháp phối hợp bố trí người chốt đường, hướng dẫn bộ đội, dân công hành quân lên phiá trước, chọn người lập tổ giao liên phục vụ cơ quan tiền phương. Trong đòn chiến lược mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 mà trọng điểm là chiến dịch Tây Nguyên, hệ thống thông tin liên lạc được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, vượt qua mọi khó khăn, phục vụ đảm bảo cho chỉ đạo, chỉ huy đánh địch ở các chiến trường giành thắng lợi rất to lớn. Ngày 24/3/1975 bốn tỉnh Tây Nguyên từ Quảng Đức trở ra sạch bóng quân thù, lực lượng giao bưu-thông tin nhanh chóng chuẩn bị lực lượng kịp thời triển khai kế hoạch thông tin liên lạc mới.

Tại chiến trường Trị Thiên-Huế, kết hợp với thông tin quân đội, thông tin điện chính đã tổ chức mạng liên lạc phục vụ  các đơn vị phía Bắc quân khu, các đài VT Đ áp sát phía trước, cơ động theo các mũi chỉ đạo, giữ vững liên lạc với Bộ tư lệnh chiến dịch và Trung tâm thông tin của tỉnh. Ngày 26/3/1975, Thừa Thiên-Huế hoàn toàn giải phóng, các lực lượng giao bưu, thông tin nhanh chóng tiếp quản các cơ sở thông tin và ngày 10/4/1975, phòng giao dịch Bưu điện Huế đã mở cửa phục vụ các cơ quan và nhân dân.

Chi viện kịp thời cho chiến trường, đầu năm 1975, Đảng đoàn và lãnh đạo Tổng cục Bưu điện cử tiếp đoàn cán bộ kỹ thuật đầu ngành do đ/c Hoàng Bạn dẫn đầu vào chiến trường Trị -Thiên và khu V hướng dẫn sử dụng các tổng đài điện thoại, các thiết bị thu phát VT Đ và tổ chức mạng viễn thông các tỉnh trong phạm vi Nha Viễn thông Trung phần để liên lạc với khu Trị Thiên, khu V, VI với Hà Nội.

Từ tháng 3 cho đến 30/4/1975, phục vụ cho chiến dịch, Ban Giao bưu các tỉnh đã huy động đến mức cao nhất về người và thiết bị phục vụ chiến trường. anh chị em giao liên bám trọng điểm chuyển giao tài liệu, công văn hỏa tốc, mệnh lệnh chiến đấu đến từng đơn vị… Bộ phận điện đài VT Đ tiền phương theo sát ban chỉ huy mặt trận, phục vụ suốt ngày đêm chuyển lệnh của Tỉnh ủy đến các cơ sở chỉ huy đánh địch và giành thắng lợi lớn.

Chiến thắng rực rõ Mùa Xuân 1975 ở Nam Trung Bộ nói lên tinh thần quyết chiến quyết thắng rất cao của quân và dân ta. Trong một tháng trời, lực lượng giao bưu, thông tin Nam Trung Bộ khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Trải qua 20 năm liên tục chiến đấu và phục vụ chiến đấu, qua bao gian khổ hy sinh và bao bước thăng trầm, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trực tiếp là Liên khu ủy liên khu V, sau này là các Khu ủy:Trị Thiên, Khu V, Khu VI, hai ngành Giao bưu, Thông tin Nam Trung Bộ đã trưởng thành nhanh chóng và tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu.

Ngày nay trong tình hình có khác trước, đất nước đang đẩy  mạnh cuộc đổi mới theo định hướng XHCN, ngành Bưu điện đang tích cực xây dựng hiện đại hóa, số hóa mạng lưới thông tin liên lạc nhưng nhiều nội dung cơ bản của các kinh nghiệm ấy vẫn còn rất bổ ích với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Ngành hiện nay. Truyền thống “trung thành, dũng cảm, tận tụy, sáng tạo” vẫn đang là kim chỉ nam cho cán bộ công nhân ngành Bưu điện noi theo và tô đậm thêm.