Xây dựng và phát triển mạng lưới thông tin vô tuyến điện ở nam bộ và khu vi phục vụ chiến đấu chống mỹ, giải phóng đất nước (1954-1975)

 

     I.     Điều lắng – bí mật tổ chức thông tin vô tuyến điện trong lòng địch (1954-1961)

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, lực lượng thông tin VT Đ kháng chiến chống Pháp ở miền Nam chuyển quân tập kết.  Để tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới, các cấp ủy Đảng xứ ủy Nam Bộ đến các Liên Tỉnh ủy và Tỉnh ủy đã bí mật gài lại một bộ phận điện đài cùng cán bộ chuyên môn để sử dụng khi cần thiết. Tại các vùng miền Đông, Trung và Tây Nam Bộ cán bộ được điều lắng, gài lại báo vụ cơ công và xây dựng các đài Xứ ủy hoạt động bí mật trong lòng địch.

Vào cuối năm 1960, Xứ ủy cho thành lập B8 thông tin trực thuộc Văn phòng Xứ ủy làm nhiệm vụ thông tin đồng thời chỉ đạo các cấp sớm khôi phục mạng lưới thông tin VTĐ trên toàn Nam Bộ. Đầu năm 1960, Khu ủy Sài Gòn –Gia Định (T4) được thành lập. cùng với sự hình thành các cơ quan trực thuộc Khu ủy, Ban Thông tin liên lạc được thành lập

 

     II.     Tổ chức lại lực lượng, mở rộng mạng lưới thông tin (1961-1965)

Ngày 14/2/1961 lớp đào tạo báo vụ đầu tiên của cụm đài Xứ ủy khai giảng, lấy tên là Lý Tự Trọng gồm 21 học viên tuyển chọn từ nòng cốt cán bộ chiến sĩ của Xứ ủy và miền Đông. Trong điều kiện thiếu thốn mọi mặt: từ nơi ở đến nơi học tập, thiếu phượng tiện dạy và học, tự cấp tự túc lương thực và đặc biệt là phải giữ bí mật trên toàn khu vực, sau 6 tháng học tập 21 học viên đã thành thạo nghiệp vụ, có thể phụ trách một điện đài độc lập. Lớp báo vụ khóa I lịch sử đã thành công tốt đẹp.

Tháng 10/1961, cụm đài B8 Thông tin Xứ ủy được chuyển thành Ban Thông tin Liên lạc TW Cục (R), làm nhiệm vụ phục vụ liên lạc VT Đ cho TW Cục, chỉ đạo mạng lưới VT Đ toàn miền Nam. Cụm đài TW Cục hoạt động thường xuyên, liên tục chủ yếu với Cục Đặc biệt (CP16) thuộc Văn phòng TW Đảng (Hà Nội).

Giữa năm 1961, đ/c Nguyễn Văn Tòng, cơ công Ban Thông tin TW Cục cải tiến máy phát 102E của cụm đài Xứ ủy ở Trung Nam Bộ trước đây thành máy phát sóng của Đài phát thanh Giải phóng. Tết 1962, Đài phát thanh Giải phóng chính thức hoạt động.

Trong các năm từ 1962-1964, cục diện kháng chiến toàn miền Nam phát triển mạnh, Ban Thông tin TW Cục không ngừng mở rộng về quy mô đáp ứng yêu cầu chỉ đạo các nơi ngày một chặt chẽ thống nhất, các lớp Lý Tự Trọng liên tục được khai giảng vừa đào tạo báo vụ vừa giúp học viên học kỹ thuật máy móc điện đài. Xưởng kỹ thuật được thành lập góp phần nghiên cứu các máy móc điện đài chiến lợi phẩm, lắp ráp các bộ máy thu phát trong điều kiện kháng chiến tự lực cánh sinh, cung cấp máy cho các khu.

Quá trình hoàn thiện mạng lưới điện đài, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài đòi hỏi mạng lưới mau chóng mở rộng và chất lượng ngày một nâng lên. Trong khi cuộc đối đầu càng gay gắt việc thu mua linh kiện vật tư dùng cho điện đài càng hiếm, các nơi đã tự lo liệu việc khôi phục máy điện đài cũ, lắp ráp mới các loại máy đơn giản quen thuộc. Tính đến cuối 1964 số lượng điện đài của miền Nam tăng lên gấp 4 lần so với 1960. Đây là cố gắng lớn của toàn ngành VTĐ trong việc lắp ráp điện đài.

Các cụm đài VTĐ Sài Gòn-Gia Định, miền Đông, Trung, Tây Nam Bộ, khu VI vừa hoạt động vừa xây dựng bộ máy, Ban thông tin liên lạc các vùng phải tự lo liệu việc tổ chức bộ máy, sinh hoạt, đời sống cho cán bộ chiến sĩ. Nhìn chung mạng lưới điện đài VTĐ ở các khu năm 1965 đã khá hoàn chỉnh, phát triển mạnh về tổ chức mạng lưới, lực lượng báo vụ và máy móc thiết bị…. khá phong phú đảm bảo thông tin liên lạc chỉ đạo của cấp ủy.

Từ yêu cầu chung của Ngành, phục vụ cấp ủy toàn Miền, tính thống nhất, xuyên suốt, bí mật và kịp thời đòi hỏi ngành VT Đ phải được lãnh đạo tập trung, phân công phân tuyến đúng mức và hợp tác đoàn kết trên toàn mạng để đói phó với kỹ thuật điện đài của đối phương, phục vụ yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy toàn Miền, TW Cục chỉ đạo tiến hành Đại hội Thông tin liên lạc miền Nam lần I (1/1965). Đại hội đánh dấu một bước ngoặt phát triển của ngành VT Đ miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Đại hội đánh giá tình hình phát triển lực lượng Thông tin VT Đ toàn miền từ 1960 – hết 1964: số máy móc điện đài tăng gấp 4 lần, số báo vụ tăng hơn 10 lần, cơ công tăng 9 lần, mạng lưới hoạt động xuyên suốt từ các cụm đài TW Cục đến các khu, tỉnh, huyện quan trọng hoặc các đơn vị độc lập đến các ngành chuyên môn khác như giao bưu, tuyên huấn, an ninh, binh vận…

Từ sự phát triển sâu rộng như trên, yêu cầu của chiến trường đang chuyển biến mạnh, ngành thông tin VT Đ toàn miền phải thống nhất lãnh dạo, hiện đại hóa phần nào về kỹ thuật, quản lý một cách khoa học xuyên suốt… để dương đầu với việc đáh phá của đối phương một cách hiệu quả nhất. Các nhược điểm, thiếu sót được Đại hội phân tích như: bộ máy chỉ đạo từ trên xuống chưa hình thành nên hoạt động chưa đi vào nền nếp, chưa được lãnh đạo chặt chẽ, chưa phát huy hết năng lực cán bộ và tính năng của máy móc điện đài, đào tạo diện rộng, kết quả huấn  luyện chưa cao, chất lượng chưa đồng đều…Sau Đại hội phương hướng hành động quy mô toàn Miền được xác lập.

 

III.     Phát triển mạnh lực lượng, chống chiến lược “tìm và diệt” của địch, tổ chức cụm đài phục vụ các chiến dịch lớn (1965-1969)

Trên cơ sở Đại hội Thông tin lần I đầu năm 1965, lãnh đạo Ban Thông tin liên lạc TW Cục bàn bạc củng cố lại tổ chức, chuyên môn hóa các bộ phận trực thuộc. Bên cạnh các cụm đài mật, Ban Thông tin cho tổ chức mạng thông tin hữu tuyến (điện thoại từ thạch) phục vụ nội bộ cơ quan TW Cục. Trong hoàn cảnh địch thường dùng thám báo chui vào căn cứ ta, việc duy trì mạng hữu tuyến là việc làm khá mạnh dạn, nhưng vẫn làm tốt nhiệm vụ của mình. Cảnh giác địch lần theo đường dây để phát hiện cơ quan đầu não nên mạng hữu tuyến tuy có tác dụng nhưng không triển khai rộng vì độ an toàn chưa cao. Ban thông tin theo chỉ đạo của TW Cục đã cung cấp các đài liên lạc hệ rõ cho thông tấn Xã giải phóng miền Nam, chỉ đạo cac skhu, tỉnh lập hệ đài minh ngữ ở cấp mình, qua đây tăng cường lượng thông tin tuyên truyền do Ban tuyên huấn chỉ đạo. Ban thông tin R còn giúp máy móc và cán bộ thông tin để lập các đài thuộc Ban An ninh, Ban Binh vận, Ban Kinh tài, Ban giao bưu, bộ phạn tài chính của Văn phòng TW Cục… Như vậy, liên lạc VT Đ đã giúp TW Cục nắm được tình hình và chỉ đạo tất cả các bộ phận trực thuộc và các địa phương.

Ngày 30/7/1966, thường vụ TW Cục miền Nam ra chỉ thị 27/C về “chấn chỉnh tổ chức và lãnh đạo công tác thông tin VT Đ”.

Các vấn đề chấn chỉnh:

-     Các hệ thống tổ chức thông tin VT Đ còn nhập nhằng. Quan hệ chỉ đạo nghiệp vụ từ trên xuống còn lỏng lẻo, các cấp chuyên môn còn rời rạc, chủ trương của địa phương không khớp với chỉ đạo chung của Ngành..

-     Quản lý và bố trí cán bộ nhân viên chưa tốt

-     Việc bảo mật tài liệu chưa chặt chẽ, lề lối tra cứu điện đến, đi còn luộm thuộm.

Từ các vấn đề đó có các chủ trương sau:

-     Ở TW và cấp khu chấn chỉnh gấp các bộ phận còn xộc xệch, tăng cường cán bộ có năng lực. Các tỉnh ủy phối hợp với Ban thông tin liên lạc khu nghiên cứu kỹ tình hình và khả năng của cán bộ để thành lập Ban Thông tin liên lạc cấp Tỉnh.

-     Do tính chất phức tạp khác nhau giữa 2 hệ thống Dân Đảng, Quân sự, ở cấp TW và cấp khu cần tổ chức 2 hệ thống riêng. Cấp Tỉnh 2 hệ thống tập trung làm một đặt dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy…

-     Bộ phận Thông tấn xã Giải phóng cấp TW Cục đặt dưới sự lãnh đạo chung của cấp ủy TW Cục, điện đài cần liên lạc chặt chẽ với Ban Thông tin Dân Đảng cấp TW Cục để được sự giúp đỡ về mặt chuyên môn khi cần.

-     Các cấp ủy Đảng cần có kế hoạch lãnh đạo, kiểm tra chặt chẽ công tác thông tin liên lạc trong hệ thống chuyên môn từ trên xuống dưới.

-     Tăng cường các mặt quản lý ngành Thông tin VT Đ: Ban thông tin liên lạc có trách nhiệm theo dõi nắm chắc  và báo cáo thường lệ với cấp ủy trực tiếp, chọn người vào Ngành phải đúng với tiêu chuẩn quy định.

Cần có chủ trương bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, đào tạo cán bộ và dự trữ máy móc. Cần quy định chế độ phân cấp quản lý, bảo đảm an toàn, giữ bí mật chuyên môn…

Năm 1968, ngành Thông tin VT Đ TW Cục lập Phòng Thông tin liên lạc gắn với Văn phòng TW Cục để trực tiếp phục vụ công tác điện báo cho cấp ủy, Phòng chịu sự quản lý về nghiệp vụ của Ban Thông tin. Chiến tranh cục bộ của Mỹ ngày càng ác liệt, cuộc chiến trên làn sóng điện ngày càng gay gắt, để thực hiện nghiêm túc phương châm bí mật, tháng 10/1966 Ban Thông tin R quyết định thành lập đài kiểm tra có nhiệm vụ phát hiện ngăn chặn kịp thời mọi sơ hở của báo vụ viên trên làn sóng trái với quy ước, thường xuyên xem xét, sửa đổi những bất hợp lý dễ bị lộ và gây hậu quả nghiêm trọng.  Theo đà phát triển của chiến tranh, mạng lưới VT Đ của R mở rộng, để đáp ứng yêu cầu, đài kiểm tra được tăng cường thành các cụm đài kiểm tra hoạt động liên tục ngày đêm.

Sau 5 năm xây dựng ngành Thông tin liên lạc Miền và hoạt động theo định hướng Đại hội Thông tin lần I (2/1965) và chấp hành chỉ thị 217/CT của Thường vụ TW cục (30/6/1966), chỉ thị 127/VP của Văn phòng TW Cục (28/7/1969), lực lượng thông tin miền Nam có bước phát triển khá dài, chống chiến lược “tìm và diệt” của địch, phục vụ Tổng tiến công Mậu Thân và chống đỡ phản kích của Mỹ ngụy trong năm 1969. Đến tháng 3/1970, Ban Thông tin tổ chức Đại hội thông tin lần II, đánh giá hoạt động trong chiến tranh cục bộ: “Với trình độ hạn chế về kỹ thuật, máy móc thiết bị còn nghèo nan lậu hậu song cán bộ ngành Thông tin đã bất khuất đối chọi với kẻ thù được trang bị kỹ thuật dồi dào và hiện đại hơn, đã từng bước giành thắng lợi trên trận chiến. Nhìn chung Ngành đã hoàn thành nhiệm vụ nhất là tỏng giai đoạn tổng khởi nghĩa năm 1968-1969”. Các khuyết nhược điểm cần được khắc phục.  Đề ra phương hướng nhiệm vụ: “Trên cơ sở nhận thức sâu sắc vai trò trách nhiệm của Ngành, lãnh đạo động viên toàn ngành hăng hái phấn khởi xông lên, kiên trì và quyết tâm vượt khó khăn ác liệt, gian khổ thiếu thốn để củng cố phát triển thực lực của Ngành về tư tưởng chính trị, tổ chức và kỹ thuật nghiệp vụ, phát triển cơ sở vật chất của Ngành về số lượng và chất lượng nhằm bảo đảm phục vụ chỉ đạo trong bất cứ tình huống nào”.

Từ giữa 1972, thông tin liên lạc VT Đ toàn miền khẩn trương chuyển sang giai đoạn mới, Hội nghị thông tin toàn Miền (như Đại hội lần III) họp từ 31/7-6/8/1972 quyết định sắp xếp lại toàn bộ hệ thống, các cụm đài, xưởng, phòng ban chuyên môn sao cho gọn, nhẹ, mạnh tăng cường cán bộ và trang bị, tăng cường mạng lưới thông tin và hiệu suất máy móc, chuẩn bị điều kiện để mở rộng việc sử dụng điện thoại hữu tuyến để đáp ứng nhu cầu liên lạc giữa TW Cục và các ban ngành.

Đặc biệt, sau HIệp định Pa-ri tháng 1/1973, TW Cục cho thành lập cụm đài VT Đ phục vụ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Chmieenf Nam Việt Nam, Phòng Thông tin cho tách  một cụm đài liên lạc trực tiếp với Hà Nội, với các cơ sở ngoại giao của Chính phủ ở nước ngoài (Pa-ri, Bắc Kinh, Maxcova…), cụm đài hoạt động liên tục đến 1/1976 khi Hiệp thương thống nhất 2 miền Nam–Bắc hoàn chỉnh mới giải thể.

Đầu năm 1975, quân ta thắng lớn trên khắp các mặt trận, khả năng giải phóng Sài Gòn ngày càng rõ và đúng ngày 30/4/1975 Sài Gòn được giải phóng hoàn toàn, Bưu điện Gia định được tiếp quản nguyên vẹn.

Như vậy, sau 30 năm kháng chiến chống Mỹ gian khổ, cuộc chiến đấu của quân và dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn bằng chiến dịch Hồ chí Minh lịch sử. Sau ngày giải phóng miền Nam, tại các tỉnh việc tiếp quản cũng hoàn toàn thuận lợi, các cơ sở Bưu điện tiếp quản gần như nguyên vẹn, được sử dụng tốt sau này.