Phát triển mạng lưới, đổi mới công nghệ theo hướng số hóa và tự động hóa, thực hiện hạch toán kinh doanh xhcn (1986-1990)

 Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiến vào giai đoạn cách mạng mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu do các Đại hội Đảng đề ra, ngành Bưu điện kiên cường phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt trở ngại, đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng XHCN. Tuy nhiên, do nhiều khó khăn khách quan và chủ yếu do những khuyết điểm, sai lầm chủ quan nên từ những năm 70, kinh tế - xã hội nước ta có nhiều dấu hiệu suy thoái và khủng hoảng, do đó mặc dù đã có nhiều cố gắng phấn đấu, song cho đến năm 1986, mạng lưới thông tin bưu điện được xây dựng chủ yếu nhằm phục vụ nhu cầu thời chiến càng bộc lộ những mất cân đối nghiêm trọng, không thích hợp với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

 

I.     Nhu cầu của xã hội thông tin liên lạc và thực trạng mạng lưới bưu chính viễn thông Việt Nam

1.    Tình hình Bưu điện Việt Nam trước thời kỳ đổi mới

Bước vào giai đoạn 1981-1985, ngành Bưu điện chủ trương “củng cố, cải tạo, tận dụng mọi tiềm năng, nâng cao chất lượng mạng lưới thông tin hiện có, khắc phục dần tình trạng bất hợp lý, mất cân đối, đồng thời hết sức coi trọng việc phát triển có trọng điểm và từng bước hiện đại hóa…”. Năng lực thông tin nhất là thông tin điện được nâng lên khá nhanh, năng lực thông tin quốc tế tăng lên nhiều lần, nhiều cơ sở Bưu điện tỉnh thành được đổi mới một bước trong đó hơn 1/3 số nhà Bưu điện tỉnh, gần 100% số nhà Bưu điện huyện đã được nâng cấp khang trang đáng kể, 96% xã có trạm bưu điện và qua một số trung tâm quá giang, nước ta có thể liên lạc bưu chính với hầu hết các nước…

Tuy có nhiều khó khăn, Ngành đã có những hoạt động phối hợp để khai thác một phần các mạng ngoài Ngành hiện có, mặt khác còn liên kết kinh tế với một số ngành và địa phương nhằm tận dụng tiềm năng về vốn kể cả ngoại tệ và thiết bị vật tư để phát triển mạng lưới.

Song song với việc chỉ đạo giải quyết yêu cầu thông tin của giai đoạn trước mắt, Ngành đã tích cực chỉ đạo công tác chuẩn bị điều kiện vật chất cho giai đoạn sau này như chuẩn bị các công trình: viba băng rộng Hà Nội – TP HCM, thông tin vệ tinh Intelsat, Vista, một số công trình điện thoại tự động đường dài và nội hạt… dự án quy hoạch mạng thông tin quốc gia thống nhất, chiến lược phát triển kinh tế của Ngành thời kỳ (1986 – 2000) đã được nghiên cứu và xây dựng kế hoạch thực hiện.

Nhìn chung, bưu chính viễn thông tuy đã thống nhất toàn Ngành về tổ chức và mạng lưới, song còn ở trong tình trạng quá lạc hậu, yếu kém cả về cơ sở vật chất kỹ thuật lẫn phương thức kinh doanh, cả trình độ quản lý lẫn con người. Những lạc hậu yếu kém thể hiện qua một số điểm sau:

-       Cơ cấu mạng lưới chưa hình thành mạng quốc gia thống nhất: mạng thông tin quốc gia còn quá nhỏ bé, chắp vá nên thiếu vững chắc, nhiều khâu mất cân đối nghiêm trọng. Mạng lưới bưu chính tuy đã phục vụ đến tận xã, huyện nhưng mạng vận chuyển vẫn dựa vào phương tiện giao thông công cộng, phương thức khai thác còn thô sơ. Bên cạnh mạng lưới hoạt động của ngành Bưu điện còn tồn tại nhiều mạng riêng của các bộ, ngành chiếm một phần lớn cơ sở vật chất của ngành Bưu chính Viễn thông. Thông tin với quốc tế mặc dù đã có hệ thống vệ tinh Intersputnik nhưng chủ yếu vẫn qua phương thức sóng ngắn.

-      Về tình trạng trang thiết bị: Trang thiết bị gồm rất nhiều chủng loại, thuộc nhiều thế hệ sản xuất và từ nhiều nước khác nhau nên chắp vá, thiếu đồng bộ, do vậy các chỉ tiêu về sử dụng dịch vụ thông tin bưu điện đạt được rất thấp.

-       Về nguồn nhân lực, tổ chức sản xuất và quản lý: Được tôi luyện qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, lại được Ngành chú trọng xây dựng, bồi dưỡng về chuyên môn, kỹ thuật quản lý, chất lượng đội ngũ CBCNV ngày càng được nâng lên và được coi là thế mạnh của Ngành. Song hoạt động trong điều kiện bao cấp, cơ chế quản lý KHKT của Ngành còn nhiều bất hợp lý nên chưa đẩy mạnh được công tác nghiên cứu khoa học, kết quả nghiên cứu ít được vận dụng vào thực tế. Nhìn chung năng lực của các hệ thống nghiên cứu KHKT và đào tạo của Ngành còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng dược yêu cầu  nảy sinh từ thực tế. Số lượng cán bộ KHKT tuy đông nhưng thiếu chuyên gia đầu ngành, thiếu công nhân giỏi. Mặt khác chưa sử dụng và phát huy đúng mức năng lực và sở trường cán bộ. Mức hiểu biết về lợi ích viễn thông bưu chính của một số cán bộ quản lý các ngành, các cấp chưa đầy đủ.

 

2.      Những chuyển hướng và tìm tòi đầu tiên

Trong khi mạng lưới thông tin liên lạc của nước ta còn hạn chế, công nghệ lạc hậu, dịch vụ nghèo nàn thì từ những năm 50 của thế kỷ 20, nhịp độ phát triển của công nghệ bưu chính viễn thông thế giới có những bước nhảy vọt lớn lao chưa từng thấy. Tổng đài số đang là đỉnh cao của kỹ thuật chuyển mạch có độ tin cậy rất cao, dung lượng lớn, thể tích nhỏ lại tiêu thụ nguồn điện ít, giá thành ngày càng hạ, loại tổng đài này ngày càng chiếm ưu thế thay thế các loại tổng đài cơ điện hiện có. Sự ra đời của cáp sợi quang và những tiến bộ vượt bậc trong việc hoàn thiện công nghệ chế tạo cáp sợi quang, kỹ thuật lazer, kỹ thuật số… tạo khả năng xây dựng được các hệ thống truyền dẫn có chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật cao (đặc biệt giá thành hạ và chất lượng truyền dẫn lý tưởng), đồng thời mở ra xu thế cáp sợi quang hóa mạng truyền dẫn. Trong thông tin vô tuyến, các tuyến viba số băng rộng có dung lượng rất lớn, các hệ thống thông tin vệ tinh được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Những tiến bộ lớn lao của kỹ thuật và công nghệ chế tạo thiết bị trong lĩnh vực chuyển mạch và truyền dẫn đã làm thay đổi sâu sắc cả về quy mô và bản chất của mạng viễn thông thế giới.

Trong lĩnh vực bưu chính-PHBC, xu thế tự động hóa, cơ giới hóa các khâu trong khai thác và vận chuyển, nhằm giảm bớt nặng nhọc cho người lao động, tăng hiệu quả và chất lượng phục vụ.

Trước tình hình đó, ngành Bưu điện đã tiến hành những thử nghiệm, tìm tòi về cách làm ăn mới nhằm khai thác tiềm năng của nền kinh tế để phát triển mạng lưới, nâng cao năng lực phục vụ, đáp ứng nhu cầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân về nhu cầu thông tin liên lạc. Song do “Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp căn bản chưa bị xóa bỏ, cơ chế mới chưa thiết lập đồng bộ. Nhiều chính sách, thể chế đã lỗi thời chưa được thay đổi, một số thể chế quản lý mới còn chắp vá, không ăn khớp, thậm chí còn trái ngược nhau, tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật khá phổ biến” đã làm chậm đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý. Mặt khác, ngành Bưu điện “cũng mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, còn nội dung, bước đi, cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề chưa đáp ứng thỏa đáng cả về lý luận và thực tiễn”, vì vậy việc phân cấp quản lý trên nhiều mặt vẫn còn trong quá trình thử nghiệm.

Tuy hoạt động sản xuất đã đi dần từ trạng thái bù lỗ sang sản xuất kinh doanh khá hơn, nhưng công tác thống kê số liệu nhiều khâu không chính xác dẫn đến tính chất hình thức, hiệu quả thấp. Công tác phân phối còn nhiều chỗ bất hợp lý, chế độ lương thưởng có những chỗ chưa quán triệt đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động, một số chế độ đối với người lao động chưa hợp lý… khiến đời sống khó khăn, thiếu ổn định, tư tưởng số đông CBCNV chưa thật yên tâm.

Kết quả, tuy có tiến bộ hơn song Ngành chưa thực hiện được mục tiêu đặt ra trong  kế hoạch 5 năm (1981-1985) là tăng cường năng lực và nâng cao chất lượng thông tin bưu điện để phục vụ tốt cho kinh tế và quốc phòng. Vì vậy mục tiêu phấn đấu của toàn Ngành năm 1986 là năng suất - chất lượng - hiệu quả. Để thực hiện được mục tiêu đó, đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức sản xuất và quản lý, phong cách lề lối làm việc trở thành vấn đề cấp bách trong giai đoạn mới, làm tiền đề cho nhiều hoạt động của Ngành. Lãnh đạo Ngành quyết định tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, kiện toàn thêm một bước cơ chế quản lý kinh tế nhằm khắc phục nhanh chóng tệ nạn tập trung quan liêu bao cấp thể hiện trong các hoạt động, cần xác định đúng bước đi cho vững chắc, không nóng vội nhưng cũng không quá nhấn mạnh khó khăn mà thiếu kiên quyết để kéo dài.

Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ của giai đoạn mới đầy khó khăn để cải tiến công tác tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với phương hướng nhiệm vụ Đại hội Đảng 6 đặt ra cho Ngành, ngày 30/8/1986, Tổng cục ra quyết định số 861/QĐ/TCCB thành lập Hội đồng Tổng cục làm chức năng tư vấn cho Tổng cục trưởng về những vấn đề quan trọng. Cơ chế quản lý của Ngành ngày càng hoàn chỉnh hơn. Điều lệ BCVT đã được xây dựng xong trình Nhà nước ban hành. Phương án quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2000 đã soạn thảo, phát huy tác dụng hướng dẫn chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển ở các địa phương. Một số chính sách, chế độ định mức, tiêu chuẩn về các mặt cũng đã và đang được xây dựng hoặc sửa đổi cho hợp lý hơn. Về lương, Tổng cục đã bảo vệ xong phương án xếp lương của Ngành với Nhà nước, tính toán dự kiến phân bổ quỹ lương cho các đơn vị thuộc khối thông tin và xây dựng phương án tính mức chi phí tiền lương; tiếp tục hướng dẫn các đơn vị tính toán đơn giá tiền lương sản phẩm công nghiệp và xây lắp. Đi đôi với việc thực hiện chế độ lương mới, Tổng cục đã nghiên cứu xây dựng và đề nghị Nhà nước một số chế độ phụ cấp: khoán tháng, lưu động, khó khăn nguy hiểm, độc hại cho các đối tượng của Ngành…

Ngày 26/6/1984, Tiểu ban Nghiên cứu chiến lược kỹ thuật của Nhà nước đã ra quyết định số 032/CL-KH thành lập Nhóm Nghiên cứu chiến lược KHKT thông tin liên lạc trong đó Tổng cục Bưu điện là cơ quan chủ trì, Viện Khoa học Bưu điện là đơn vị thường trực. Với quan điểm phát triển kỹ thuật bằng con đường ngắn nhất, đầu tư ít nhất, đi đến hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển mới, Nhóm nghiên cứu đề xuất: viễn thông-bưu chính Việt Nam cần phải bỏ qua giai đoạn trung gian, đi thẳng vào hiện đại. Đó là “số hóa” tiến tới mạng số đa dịch vụ với trang thiết bị tương ứng.

Để thực hiện nhiệm vụ cách mạng KHKT đến năm 2000, Ngành cần xây dựng một chiến lược số hóa, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu mới nhất của KHKT trên mạng lưới để không bị cản trở, quá khó khăn, tốn kém như một số nước có mạng (analog) đã phát triển mạnh gặp phải. Do đó, lãnh đạo Ngành quyết định phải thử nghiệm, học tập kinh nghiệm, thu thập ý kiến trong nước và nước ngoài để tìm ra đáp số những bài toán về chiến lược và sách lược phát triển Ngành trong giai đoạn mới.

Là một ngành kỹ thuật cao, đòi hỏi kết nối quốc tế nhưng vốn ngoại tệ thiếu, lại thêm chính sách cấm vận của Mỹ càng làm khó khăn hơn. Vấn đề quan trọng là chọn phương hướng phát triển và hiện đại hóa mạng lưới viễn thông thế nào cho phù hợp trong khi thế giới đã có những bước tiến rất lớn trong lĩnh vực viễn thông. Vì vậy, để đạt được các mục tiêu kinh tế-xã hội của thời kỳ quá độ thì viễn thông-bưu chính Việt Nam phải được phát triển với tốc độ cao nhất ở mức gấp rưỡi tốc độ phát triển của các ngành khác.

Sau khi nghiên cứu, phân tích, so sánh, ngành Bưu điện quyết định chọn mũi tiến công để hợp tác với người nước ngoài trên nguyên tắc “Hai bên cùng có lợi” để tạo nguồn vốn ngoại tệ cho Ngành.

Hội đồng Bộ trưởng và các ngành rất ủng hộ phương hướng phát triển và hiện đại hóa mạng lưới viễn thông của ngành Bưu điện. Để xây dựng hệ thống thông tin quốc gia Nhà nước thành lập Tiểu ban nghiên cứu hệ thống thông tin quốc gia có nhiều ngành tham gia do Ủy ban khoa học xây dựng Nhà nước chủ trì trong đó Tổng cục Bưu điện cử đ/c Đặng Văn Thân, Tổng cục trưởng là Ủy viên thường trực tiểu ban. Với tinh thần trách nhiệm cao, xem xét một cách toàn diện về các mặt kỹ thuật kinh tế và nhu cầu các ngành, Tiểu ban đã đề ra nhiều hoạt động đối với các ngành. Nhờ cố gắng lớn của ngành Bưu điện, qua một năm chuyển hướng tìm tòi và cải tiến tổ chức sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý đã góp phần quan trọng vào việc phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch, thực hiện tốt nghĩa vụ thu nộp ngân sách vượt mức quy định.

 

II.     Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới trong toàn ngành Bưu điện

1.     Đổi mới tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý mới

Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, làm ăn không tính đến lỗ lãi, hiệu quả… khi chuyển sang cơ chế thị trường không thể không đổi mới tổ chức sản xuất, xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý mới để có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Đó là một công việc mới và khó đối với toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là đối với ngành Bưu điện.

Đối với một ngành có đặc điểm kinh tế, sản xuất là tập trung trên quy mô toàn Ngành, tư tưởng bao cấp trước đây rất nặng nề, mặc dù từ 1985-1986, Tổng cục đã có nhiều biện pháp để cải tiến, sắp xếp lại tổ chức sản xuất và bộ máy quản lý và đã thu được kết quả nhất định, song do ít kinh nghiệm nên có lúc còn nóng vội, giản đơn không phù hợp với thực tế. Do đó, trong Ngành đã bắt đầu xuất hiện tư tưởng bảo thủ mới, muốn quay trở lại cơ chế vốn đã quen thuộc, do dự không dám giải quyết những vấn đề đã chín muồi. Vì vậy, năm 1986, vấn đề đầu tiên là phải đổi mới nhận thức về cơ chế quản lý sắp xếp lại tổ chức sản xuất dựa trên nguyên tắc cơ bản là đổi mới cơ chế kế hoạch hóa, gắn kế hoạch với hạch toán kinh doanh và thị trường. Trong tổ chức thực hiện phải bảo đảm các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh.

Sau một thời gian bằng phương hướng và nội dung của đổi mới bộ máy quản lý sát với thực tế, Ngành đã tạo được sự đồng bộ và gắn bó chặt chẽ với việc đổi mới mạnh mẽ và tổ chức sản xuất được tăng cường thêm một bước. Tuy nhiên, khi tổ chức đã thay đổi mà cơ chế chưa có hoặc chưa đầy đủ thì không thể phát huy hết những ưu điểm của tổ chức mới, thậm chí có tác dụng ngược lại. Do đó, đổi mới tổ chức, đổi mới cơ chế, đổi mới phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc phải tiến hành đồng bộ. Để tạo ra một tác động lớn trên mọi lĩnh vực hoạt động trong điều kiện các cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước đang ở giai đoạn chưa ổn định, cơ chế cũ còn ràng buộc, chưa bị xóa bỏ, cơ chế mới chưa được xây dựng đồng bộ, Ngành đã suy nghĩ tìm ra bước đi và nội dung đổi mới từng bước bằng nhiều chủ trương, biện pháp đúng đắn, sáng tạo. Một mặt đáp ứng được đòi hỏi của cơ sở, mặt khác làm tốt hơn các công tác quản lý Ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở. Ngành cũng kiến nghị với Nhà nước nhiều biện pháp, đề xuất nhiều cơ chế mới nhằm tháo gỡ và phát huy được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của Tổng cục.

Những tiến bộ trong hoạt động đổi mới cơ chế quản lý đã tạo nên bước phát triển mới, làm tiền đề cho giai đoạn phát triển mạnh mẽ của Ngành trong các năm sau. Đây là sự đổi mới trải qua nhiều công sức nghiên cứu thí điểm kể từ năm 1986 đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Ngành năng động hơn, bước đầu xóa bỏ cơ chế bao cấp, chuyển sang phương thức hạch toán XHCN. Các nhiệm vụ, công tác chủ yếu và các chỉ tiêu kế hoạch nhà nước cơ bản đều hoàn thành.

Mặc dù đã có bước chuyển biến mạnh mẽ về cải tiến tổ chức và bước đầu đổi mới cơ chế quản lý, song về xây dựng cơ chế mới chưa làm được nhiều. Việc xây dựng, ban hành các cơ chế quản lý chậm được thực hiện, không đồng bộ với việc đổi mới sản xuất, quản lý nhất là ở cấp tỉnh. Từ đó dẫn đến tình trạng lúng túng bị động của cơ sở và không có sự đồng nhất trong toàn Ngành. Hiệu quả của công tác quản lý bị hạn chế, tính ưu việt của tổ chức mới chậm được phát huy. Về phía Ngành chưa làm rõ được chức năng quản lý Nhà nước và nhiệm vụ điều hành sản xuất quản lý kinh doanh.

Để thực hiện mục tiêu ổn định một bước quan trọng tình hình kinh tế-xã hội chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho việc phát triển trong các năm sau giai đoạn 1988-1990, song song với việc củng cố và phát triển mạng lưới thông tin bưu điện và phát thanh truyền hình, Ngành đã tiến hành mạnh mẽ việc tổ chức lại sản xuất, bộ máy quản lý và đổi mới cơ chế quản lý, các đơn vị sản xuất cơ sở được tổ chức theo hướng gắn quản lý khai thác và quản lý kỹ thuật trong một dây chuyền khép kín, thống nhất hữu cơ, giảm đầu mối, bớt trung gian. Năm 1988, biên chế quản lý gián tiếp ở cơ sở giảm 30% để chuyển sang trực tiếp sản xuất và làm dịch vụ bưu điện, xóa bỏ các đơn vị chuyên chi, đưa dần một số đơn vị hành chính sự nghiệp sang hạch toán kinh doanh, gắn chặt với mạng lưới và nâng cao hiệu quả kinh tế. Nhờ vậy, khối lượng và chất lượng phục vụ thông tin đã tăng hơn năm 1987.

Tuy nhiên những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu vì theo QĐ số 217/HĐBT, Nhà nước vẫn chưa thật sự coi xí nghiệp là đơn vị tự quản, là người sản xuất hàng hóa, chưa gắn xí nghiệp với thị trường, chưa đặt xí nghiệp trong môi trường kinh doanh. Thực tế Nhà nước còn giao kế hoạch pháp lệnh về sản lượng cho xí nghiệp, còn phân phối vật tư theo kế hoạch và chỉ định các tổ chức cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm và còn quy định hầu hết giá cả các sản phẩm làm ra là không phù hợp với sản xuất hàng hóa. Nên chưa thể tự chủ kinh doanh được. Vì vậy, tháng 8/1988, Tổng cục Bưu điện đã trình lên Hội đồng Bộ trưởng đề án xin làm thử “Hạch toán toàn phần và tự hoàn vốn”. Đây là một công việc có tính chiến lược và mang ý nghĩa thực tiễn mà Ngành đã đầu tư nhiều sức lực để chuẩn bị và làm thử, thực chất là quá trình để tiếp tục hoàn chỉnh phương án và chuẩn bị thêm các điều kiện về tổ chức, cơ chế hoạt động và cũng là để có thời gian tập huấn cán bộ, đảm bảo chắc chắn cho việc chính thức thực hiện trong những năm sau.

Cùng với việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh và đổi mới cơ chế quản lý, năm 1988, Ngành tiếp tục kiện toàn tổ chức sản xuất ở các đơn vị kinh tế cơ sở, các Bưu điện tỉnh thành. Trước hết là 2 trung tâm thông tin đầu mối là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các công ty, xí nghiệp trực thuộc đã được chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Tổng cục cũng đã thành lập một số đơn vị sản xuất mới như Trung tâm Thông tin xuất bản và In Bưu điện, Trung tâm Thống kê tính toán, Xí nghiệp Liên doanh sản xuất thiết bị Viễn thông (VTC), mở rộng chức năng nhiệm vụ của Công ty Dịch vụ Viễn thông (Cokyvina) thành đơn vị xuất nhập khẩu trực tiếp, thành lập Cục quản lý kỹ thuật Phát thanh và Truyền hình, đồng thời sát nhập, giải thể một số Vụ Ban chức năng để tinh gọn bộ máy.

Trọng tâm của công tác tổ chức năm 1988 là chỉ đạo việc xây dựng cơ chế hoạt động mới cho các tổ chức đã hình thành theo hướng phân cấp mạnh cho các công ty và bưu điện huyện. Các bưu điện tỉnh thành đã giảm bớt những tổ chức không cần thiết, bỏ những khâu trung gian, sắp xếp lại lao động làm cho dây chuyền sản xuất được đồng bộ, ổn định, bảo đảm có năng suất, chất lượng và hiệu quả.

Năm 1989, Tổng cục Bưu điện đã từng bước sửa đổi và ban hành các quy định về tổ chức và phân cấp kế hoạch, tài chính của Ngành cho phù hợp với tình hình phát triển sản xuất kinh doanh và đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ. Ngoài việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển mạnh sang hạch toán kinh doanh ở tất cả các đơn vị sản xuất, bước đầu một số đơn vị sự nghiệp đã gắn được quyền hạn trách nhiệm với lợi ích của người lao động. Những công tác lớn trên thực sự đã đưa công tác quản lý sản xuất toàn Ngành dần dần đi vào nề nếp, làm ăn có bài bản đúng hướng các nghị quyết của Đảng, hạn chế được những sai sót trong sản xuất kinh doanh.

Tuy vậy, về mặt quản lý nhà nước trong thông tin vẫn còn nhiều điểm yếu kém, các cơ chế quản lý về bưu chính, viễn thông chậm được ban hành hoặc sửa đổi cho phù hợp tình hình đổi mới trên mạng. Công tác quản lý Nhà nước đối với công tác thông tin ngoài ngành còn lỏng lẻo… đặc biệt năm 1989, sự phát triển của các đài phát thanh, phát hình ở các địa phương tuy chưa nhiều những đã có sự rối loạn. Tổng cục Bưu điện chưa quản lý tốt, chưa có quy hoạch, quan điểm chỉ đạo tập trung thống nhất giữa Ngành và Bộ Thông tin về nội dung cụ thể. Tổ chức sản xuất kinh doanh của Ngành đang trong quá trình thay đổi, thử nghiệm. Những điểm yếu của mô hình tổ chức mới chưa được kịp thời bổ kkhuyết. Cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN mới bước đầu xây dựng còn nhiều lúng túng trong việc đưa hạch toán toàn ngành vào chiều sâu. Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trực thuộc bưu điện tỉnh, thành, việc đổi mới cơ chế còn gặp nhiều khó khăn trở ngại cả trong và ngoài ngành. Do đó việc thực hiện cơ chế hạch toán toàn phần tự hoàn vốn tiến độ còn chậm.

Với những kết quả tiến bộ cũng như tồn tại trong việc thực hiện kế hoạch đổi mới tổ chức sản xuất, quản lý trong những năm 1987-1989, nhiệm vụ hoàn thiện mô hình tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh, tăng cường hiệu lực quản lý ngành và Nhà nước về thông tin… trở thành nhiệm vụ trọng tâm từ 1990 trở đi. Nhưng năm 1990 công tác tổ chức hoàn thiện cơ chế của Ngành có khó khăn hơn.

Thực hiện Nghị quyết số 224/NQ/HĐNN ngày 31/3/1990 của Hội đồng Nhà nước về việc đổi tên Bộ Giao thông vận tải thành Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện, Bộ có chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành Bưu điện, ngày 7/4/1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 115/HĐBT chuyển Tổng cục Bưu điện thành Tổng công ty BCVT Việt Nam nằm trong Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện có chức năng quản lý sản xuất kinh doanh.

Đây là thời kỳ có sự chuyển biến mới về tổ chức hoạt động của Ngành, do đó cần phải quy hoạch cán bộ các cấp, đặc biệt là cấp Ngành để đủ sức đưa Ngành vươn lên, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Đây là thời kỳ Ngành được tăng cường cán bộ lãnh đạo nhiều nhất từ trước đến nay. Trong tiến trình xóa bỏ cơ chế cũ, thiết lập cơ chế mới, Lãnh đạo Ngành đã thực hiện theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, từng bước kiện toàn tổ chức quản lý đã giúp cho Ngành tích cực phát huy tinh thần sáng tạo và tính tự lực tự cường, để từ đó làm cho công tác thông tin ngày càng phát triển.

Qua những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Ngành đã thấy rõ tổ chức quản lý và sản xuất hợp lý sẽ tạo ra sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn cho sản xuất, sẽ giải phóng sức lao động và năng lực sản xuất mang hiệu quả vượt bậc. Tuy nhiên do tính chất đặc thù của sản xuất bưu điện, Ngành cần chủ động quan tâm đầu tư nhiều hơn, đi sâu nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn để những phương án đổi mới tổ chức quản lý sản xuất của Ngành có luận cứ khoa học và có sức thuyết phục  cao.

 

2.     Nâng cao chất lượng và năng lực thông tin liên lạc

Trước đây, ngành Bưu điện chỉ được coi là một ngành dịch vụ cũng như mọi ngành dịch vụ khác…. Vì thế, trong kế hoạch phân bổ ngân sách được coi như cái đuôi của ngành Tài chính. Chỉ đến Đại hội lần thứ 6 của Đảng, nó mới được xác định trên thực tế là ngành thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế, là hệ thần kinh của quốc gia, được ưu tiên phát triển trước một bước so với các ngành khác để phục vụ cho sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân.

Phát triển hệ thống thông tin liên lạc đi trước một bước thực chất là nâng cao chất lượng và năng lực thông tin, đây là một chương trình hết sức quan trọng vừa mang tính cấp bách vừa mang tính cơ bản lâu dài. Để nâng cao chất lượng và năng lực thông tin liên lạc, Ngành đã đề ra một chương trình đồng bộ với mục tiêu tạo nên sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng mạng lưới và chất lượng phục vụ bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống, đáp ứng được yêu cầu cơ bản là bưu chính, PHBC, điện báo, điện thoại…. trong nước và quốc tế.

Về bưu chính – PHBC: Do nhiều tác động, bước vào kế hoạch 5 năm (1986-1990) những khó khăn trong lĩnh vực thông tin bưu chính – PHBC không những không giảm mà còn gay gắt thêm. Để đạt mục tiêu “Chất lượng thông tin, năng lực, năng suất lao động, hiệu quả kinh tế”, ngay từ 1986, Tổng cục đã đặt nhiệm vụ cải tiến mạng đường thư trong toàn quốc là một công tác trọng tâm. Các bưu cục được nâng cấp khang trang, công tác khai thác được nhiều cơ sở chỉ đạo sát hơn trước. Trang bị một số thiết bị mới như máy đục răng tem, máy đóng dấu cước phí bằng nguồn vốn ngoại tệ tự có của Ngành. Bưu chính ngoại dịch do các đầu mối tiếp nhận ngoại dịch đã thực hiện nhiều biện pháp có hiệu quả nên chất lượng tăng đáng kể. …Với những cố gắng vượt qua khó khăn, chất lượng thông tin bưu chính đã có những chuyển biến rõ nét, giải quyết dứt điểm những tồn tại kéo dài nhiều năm về đền bù, khiếu nại của khách hàng, chất lượng PHBC, chuyển phát bưu phẩm bưu kiện có nhiều tiến bộ. Đặc biệt, nhiều Bưu điện tỉnh thành mở thêm các dịch vụ mới như phát bưu kiện tại nhà, điện hoa, thí điểm nghiệp vụ phát thư nhanh (EMS), nghiệp vụ bưu phẩm khai giá, dịch vụ chuyển tiền quốc tế… Ngoài ra công tác phát hành và kinh doanh tem bưu chính có nhiều tiến bộ rõ rệt, mạnh dạn đầu tư đẩy mạnh xuất khẩu tem chơi sang các nước châu Âu, vì vậy đã vượt kế hoạch ngoại tệ về xuất khẩu tem chơi.

Một sự kiện quan trọng trong công tác tuyên truyền thông tin báo chí của Ngành là ngày 18/1/1990, báo Bưu chính-Viễn thông (nay là Báo Bưu điện Việt Nam) được Bộ Văn hóa thông tin cấp giấy phép xuất bản số 37/BVHTT. Báo có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục công nhân viên chức trong Ngành thực hiện tốt các thể lệ, thủ tục khai thác, giới thiệu cho nhân dân các dịch vụ bưu điện, động viên người tốt việc tốt, góp phần đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong ngành Bưu điện. Đ/c Lê Đức Niệm là Tổng cục phó kiêm Tổng biên tập, đ/c Trịnh Đình Trọng là Phó tổng biên tập. Ngày 15/5/1990, Báo Bưu chính –Viễn thông ra số đầu tiên, một năm sau đổi tên thành báo Bưu điện Việt Nam.

Về viễn thông: Thực hiện chiến lược đi thẳng vào công nghệ hiện đại theo hướng số hóa, tự động hóa, đa dịch vụ, năm 1987 cùng với việc xây dựng mới, Ngành đã coi trọng việc củng cố, cải tạo và khai thác tiềm năng của mạng lưới. Nhằm mục đích nâng cao chất lượng quản lý, vận hành và hiệu quả sử dụng mạng lưới, từ tháng 1/1987 toàn bộ các tuyến trục đã được phân giao cho các địa phương quản lý. Sau bàn giao nhiều đơn vị đã chủ động đầu tư bằng nguồn vốn tự có cho việc củng cố cải tạo đường dây, trạm máy, di chuyển cơ vụ về gần tổng đài, nâng cao chất lượng các tuyến thông tin, khắc phục nhiều tồn tại trên mạng do hậu quả quản lý lỏng lẻo qua nhiều năm của các Trung tâm viễn thông. Chất lượng các tuyến trục đã có xu hướng được bảo đảm vững chắc và nâng cao. Mạng viễn thông quốc tế phát triển một bước mới qua việc hoàn thành và đưa vào sử dụng trạm thông tin vệ tinh “Hướng dương” khai thác nghiệp vụ Vista thuộc tổ chức Intelsat. Với chất lượng cao, phương thức kinh doanh tiện lợi, khả năng phát triển dịch vụ lớn, trạm “Hướng dương” đã tạo nên một năng lực mới và hiệu quả cao về kỹ thuật và kinh tế.

Nhìn lại qua 2 năm (1986-1987) là thời kỳ Ngành phấn đấu liên tục và đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong hoạt động nâng cao chất lượng và năng lực thông tin Bưu điện.

Năm 1988 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm (1986-1990) nên có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện những nhiệm vụ của 3 năm còn lại. Đứng trước yêu cầu phải nhanh chóng phát triển và từng bước hiện đại hóa mạng lưới thông tin điện trong cả nước và mở rộng liên lạc với quốc tế, song lại phải đáp ứng kịp thời thông tin liên lạc của xã hội, Ngành đã năng động và linh hoạt huy động các nguồn vốn để xây dựng và phát triển mạng lưới. Nhiều công trình được triển khai xây dựng, trong đó phải kể đến công trình 1A, mạng lưới phát thanh truyền hình TW, các tuyến thông tin cho 6 tỉnh biên giới phía Bắc, theo phương châm nơi nào cần và sử dụng có hiệu quả thì tìm mọi biện pháp để tăng cường. Những tuyến trạm nào xét thấy ít hiệu quả thì thu gọn và điều chuyển. Qua một năm phấn đấu đã có sự biến đổi rõ rệt…

Để phát triển mạng lưới, năm 1989, mạng thông tin cấp I phát triển nhanh, đã đưa nhiều trang thiết bị mới, hiện đại vào sử dụng. Nhưng mạng cấp II và nội hạt còn yếu chưa đáp ứng được yêu cầu đồng bộ với mạng cấp I, còn thiếu nhiều tổng đài và cáp nội hạt, nhất là tổng đài đường dài nên nhiều nơi vào giờ cao điểm điện thoại viên phải thao tác quá nhiều đường điện, khó đảm bảo được chỉ tiêu nhanh chóng, chính xác dẫn đến giảm doanh thu. Tất cả những điều đó cho thấy việc đẩy mạnh hiện đại hóa, số hóa mạng lưới thông tin Bưu điện ở nước ta là một yêu cầu khách quan và cấp bách. Song do phát triển mạng lưới thông tin trong điều kiện vốn đầu tư của Nhà nước cho Ngành quá thấp, nên muốn giải quyết được vấn đề, Ngành phải liên doanh hợp tác với nước ngoài để phát triển dịch vụ viễn thông quốc tế, qua đó tích lũy vốn ngoại tệ và chỉ sau khi có được vốn ngoại tệ khá, mới có khả năng nhanh chóng trang bị kỹ thuật mới cho mạng cấp II và mạng nội hạt. Đây là cách “Lấy ngoài nuôi trong”, lấy việc phát triển viễn thông quốc tế để mở ra một lối thoát, một khả năng hiện thực giải quyết khó khăn về thiếu vốn trong việc hiện đại hóa bưu chính viễn thông. Song song với việc nâng cao năng lực và chất lượng thông tin bưu điện, năm 1989, Tổng cục cũng triển khai nhiều biện pháp đầu tư củng cố, sửa chữa để giữ vững và nâng cao chất lượng phát thanh truyền hình.

Những thành tựu của viễn thông đạt được trong kế hoạch 5 năm (1986-1990) cho thấy:

-       Thực hiện chiến lược đi thẳng vào công nghệ hiện đại, bỏ qua giai đoạn trung gian là một chiến lược đúng. Trong điều kiện khó khăn về kinh phí và bị Mỹ cấm vận, Ngành đều tìm mọi cách tạo vốn, tranh thủ sự hợp tác với các hãng, công ty lớn trên thế giới để nhập các loại thiết bị công nghệ tiên tiến. Đây là thành tựu rất cơ bản, tạo cơ sở cho quá trình hiện đại hóa, ứng dụng và đón bắt những tiến bộ của công nghệ viễn thông và tin học trên mạng viễn thông nước ta, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

-       Sử dụng kỹ thuật hiện đại trong viễn thông đang là một yêu cầu bức thiết của nước ta cả về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế. Trong viễn thông, kỹ thuật càng hiện đại thì lượng thông tin càng lớn, tốc độ truyền tải thông tin càng nhanh và do đó doanh thu càng lớn, trong khi ngành Bưu điện còn rất nhiều bất cập cần khắc phục, vì vậy biện pháp tốt nhất là phải nhanh chóng hiện đại hóa toàn bộ mạng lưới.

 

3.    Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, phát triển sản xuất công nghiệp thông tin và nghiên cứu kỹ thuật

Trong quá trình hiện đại hóa mạng lưới, công nghiệp Bưu điện đóng một vai trò quan trọng, vì vậy phát triển công nghiệp Bưu điện là một trong những chủ trương chiến lược của Ngành. Nó không chỉ tăng cường tính tự chủ, nâng cao năng lực nội sinh, phát triển nhanh đội ngũ cán bộ KHKT mà còn tạo công ăn việc làm, nâng cao tay nghề của người lao động, mở ra hướng làm ăn mới có thể tự chế tạo lấy những thiết bị của Ngành một cách chủ động. Đồng thời về lâu dài chương trình phát triển công nghiệp thông tin tạo cho chúng ta sức mạnh bên trong để đối phó với những thách thức mới trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20 và bước sang thềm thế kỷ 21.

Để phát triển sản xuất công nghiệp thông tin, Ngành đã tích cực tìm kiếm khả năng và điều kiện mới  theo hướng hợp tác liên doanh với trong và ngoài nước, nhập dây chuyền thiết bị với quy mô nhỏ, công nghệ mới và linh kiện đồng bộ để lắp ráp, sản xuất các thiết bị thông tin hiện đại. Tuy vậy, tồn tại lớn nhất và kéo dài của khối sản xuất công nghiệp là sản phẩm phục vụ mạng lưới còn ít, đó là do năng lực sản xuất công nghiệp thông tin vẫn không được tiếp tục đầu tư thích đáng chỉ dựa vào sự đầu tư quá ít của Nhà nước, có tới 70-80 thậm chí 90% linh kiện thiết bị nhập khẩu bằng ngoại tệ mạnh trong khi ngoại tệ rất thiếu. Vì vậy các máy móc thiết bị công nghiệp thông tin ở nước ta phần lớn là cũ, lạc hậu, năng suất thấp…nhiều loại vật liệu thiết yếu cho sản xuất không được mua sắm khiến các nhà máy xí nghiệp lúng túng, bị động, không chủ động được kế hoạch sản xuất, dẫn tới sản xuất ngừng trệ, sản phẩm làm ra ứ đọng, số công nhân không có việc làm lên tới 24% trong toàn khối công nghiệp.

Trước tình hình đó, Tổng cục đã chỉ đạo khối công nghiệp thông tin sắp xếp lại sản xuất cho phù hợp với cơ chế sản xuất và thị trường, đầu tư nghiên cứu thay đổi các quy trình công nghệ và đa dạng hóa loại hình sản phẩm, tổ chức hướng dẫn người tiêu thụ. Năng động tiếp cận thị trường và tính toán lại một cách chính xác các yếu tố đầu vào, loại bỏ những chi phí không thực tế để hạ giá thành sản phẩm, tạo đủ việc làm cho công nhân. Từ phương hướng đó, các xí nghiệp đã chủ động đổi mới kỹ thuật cho mạng lưới, từng bước chuẩn bị chế thử và lắp ráp SKD một số mặt hàng như máy điện thoại ấn phím, tổng đài điện tử dung lượng nhỏ, thiết bị viba số ít kênh…. đạt kết quả bước đầu tương đối khá.

Trong điều kiện thế giới đang tiến nhanh vào giai đoạn mới của cuộc cách mạng KHKT và qua tình hình thực tế của Ngành càng thấy rõ sự bức bách phải làm cho KHKT thật sự trở thành một động lực to lớn đẩy nhanh quá trình phát triển mạng lưới thông tin liên lạc ở nước ta. Do đó Tổng cục  đã đề ra nhiệm vụ của công tác nghiên cứu khoa học trong Ngành là phải lựa chọn và tổ chức áp dụng rộng rãi thành tựu KHKT tiên tiến, thích hợp, nhằm trước hết phục vụ 4 chương trình lớn của Ngành.

Thực hiện Nghị quyết số 51/HĐBT ngày 17/5/1983 cho các Bộ, Tổng cục được lập quỹ phát triển KHKT của Nhà nước, ngày 5/9/1987, Tổng cục đã quy định về việc trích lập và sử dụng quỹ tập trung của Ngành, coi trọng đầu tư vào chiều sâu và quản lý tốt để sử dụng có hiệu qủa các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của Ngành. Do đó năm 1987, công tác KHKT của Ngành đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, bám sát nhiệm vụ sản xuất, phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Nhiều thành quả đã được đưa vào thực tiễn sản xuất và mạng lưới. Hoạt động KHKT của Ngành ngày càng đi đúng hướng. Cơ sở vật chất cho các phòng thí nghiệm của Viện KHKT Bưu điện được tăng cường và đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu các đề tài trọng điểm cấp Nhà nước và cấp Ngành để sớm đưa vào sản xuất đã đóng góp vào việc tạo điều kiện cho sự phát triển công nghiệp thông tin.

Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm (1986-1990), để phục vụ sự nghiệp đổi mới của Đảng, Ngành đã phải tháo gỡ, giải quyết hàng loạt khó khăn, mối quan hệ. Đó là mâu thuẫn nhu cầu thông tin xã hội ngày càng cao với mức đầu tư của Nhà nước hàng năm cho Ngành quá ít ỏi, là mâu thuẫn giữa một ngành kỹ thuật cao, đòi hỏi kết nối với quốc tế, nhưng vốn ngoại tệ thiếu và chính sách cấm vận của Mỹ. Để giải quyết mâu thuẫn đó, Ngành  đã đẩy mạnh công tác hợp tác với nước ngoài trên nguyên tắc “Hai bên đều có  lợi”, nhằm mục tiêu “nhanh chóng nắm bắt các thành tựu KHKT, tránh lãng phí do nghiên cứu trùng lặp”. Mặt khác về chủ quan, Ngành đã xây dựng được chiến lược phát triển đúng đắn đi thẳng vào công ngệ hiện đại theo hướng số hóa và tin học hóa, đồng thời đã xây dựng được bước đi và chính sách thích hợp. Trong quá trình hoạt động Ngành đã tạo được những thế mạnh mới, những thuận lợi mới: xây dựng được mối quan hệ ngày càng rộng rãi, có mối quan hệ với nhiều tổ chức quốc tế và khu vực về bưu chính viễn thông.

 

Năm 1988, khi Luật Đầu tư đối với nước ngoài được Nhà nước ban hành, hiểu được những khó khăn trong việc hợp tác với các nước XHCN: kỹ thuật phát triển chậm, khả năng tìm nguồn vốn khó nên một mặt Ngành vẫn tăng cường hợp tác với Liên Xô và các nước XHCN trong khối SEV, mặt khác tích cực tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức trong Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), Liên minh Bưu chính thế giới (UPU), hợp tác với các tổ chức và công ty nước ngoài thu hút sự đầu tư từ nước ngoài để mau chóng hiện đại hóa mạng lưới và từ đó có nguồn thu ngoại tệ lớn.  Một thắng lợi hết sức quan trọng của ngành Bưu điện trong hợp tác quốc tế là mở rộng hợp tác song vẫn đảm bảo chủ quyền, giữ mối quan hệ tốt với các đối tác. Ngành cũng có những hình thức liên doanh thích hợp. Do đó nhiều đề án đã được thực hiện trong năm 1989 có hiệu quả cao.

 

4.     Bồi dưỡng, đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ

Nhận thức rõ vai trò nhân tố con người, ngay từ bước đầu giai đoạn đổi mới, Ngành đã xây dựng chương trình “Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCNV Bưu điện” nhằm mục tiêu: nâng cao năng lực, lòng nhiệt tình và trách nhiệm công tác, đồng thời phát huy truyền thống nghĩa tình của người Bưu điện.

Trong lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ, Ngành đầu tư cải tạo trang thiết bị cho các trung tâm đào tạo và viện nghiên cứu KHKT, củng cố, tổ chức sắp xếp lại các trường, trung tâm đào tạo. Năm 1986 Tổng cục ra quyết định số 1139/QĐ/TCCB chuyển trường Đại học Kỹ thuật TTLL thành trường Cán bộ Bưu điện là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục có chức năng bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ quản lý, kinh tế, kỹ thuật nghiệp vụ bưu chính viễn thông đồng thời nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy học tập và sản xuất. Trường Trung học miền núi cũng được chuyển thành Trường Công nhân…

Để công tác cán bộ đáp ứng được yêu cầu về đổi mới tổ chức sản xuất, Ngành đã tăng cường công tác cán bộ, mở các khóa bồi dưỡng giám đốc về các nghiệp vụ bưu chính, kinh tế, cử cán bộ quản lý kinh tế kỹ thuật đi học tập nghiên cứu ở nước ngoài, đồng thời mở rộng các hình thức đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn theo từng chuyên đề sát với thực tế  để kịp thời có tác động vào quản lý sản xuất và kỹ thuật trên mạng lưới…

 

Nhìn chung các chính sách của Ngành đối với vấn đề bồi dưỡng đào tạo xây dựng đội ngũ đã được triển khai là một thành tựu lớn. Tuy nhiên, do CNTT ngày càng hiện đại và phát triển nhanh nên để có đội ngũ những người làm công tác KHKT thông tin có cơ cấu hoàn chỉnh vẫn còn là điều bất cập. Ngành chưa có đội ngũ cán bộ đầu đàn có trình độ cao, nắm vững các vấn đề kỹ thuật có hệ thống đủ sức tham mưu trong việc lựa chọn công nghệ hoặc giải quyết những vấn đề nảy sinh. Mặt khác trong Ngành vẫn còn tình trạng thiếu đồng bộ trong đào tạo cán bộ KHCN với cán bộ thuộc lĩnh vực tài chính, kinh doanh, pháp luật và nghiệp vụ khai thác, phong cách làm việc vẫn mang nặng dáng dấp của cơ chế bao cấp, cửa quyền, trì trệ chưa đáp ứng được cơ chế mới. Đó là do Ngành chưa có chiến lược và kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cơ bản, việc đào tạo chỉ mang tính chất “ăn xổi”. Điều đó chỉ đáp ứng được những bức xúc trước mắt, về cơ bản và lâu dài cần có chiến lược đào tạo về nghiên cứu kỹ thuật và quản lý để bước vào giai đoạn mới đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới của đất nước, của Ngành.

 

5.    Về chương trình chính sách xã hội của toàn Ngành

Nhằm đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống vật chất của CBCNV, với nhận thức đúng đắn coi trọng chính sách xã hội là điều kiện cần thiết của phát triển kinh tế, Ngành thực hiện chương trình về “Các chính sách xã hội”, lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất, là mục tiêu phấn đấu của toàn Ngành. Từ đó, Ngành tiến hành sắp xếp lại lao động, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động… Thời kỳ 1988, với mức lương có hạn, giá cả thị trường biến động ngày một tăng ảnh hưởng đến đời sống CBCNV, lãnh đạo Ngành đã chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, phát triển nhiều dịch vụ thông tin để có thêm nguồn phụ thu đồng thời tổ chức tốt lao động cho số cán bộ dôi dư hướng vào phục vụ sản xuất và đời sống, kết hợp với tổ chức sản xuất kinh tế phụ gia đình để nâng cao thu nhập cho CBCNV. Do sản xuất kinh doanh được phát triển và sự năng động của các cơ sở nên đời sống vật chất và tinh thần của CBCNV được ổn định và có bước cải thiện, điều đó có tác dụng rất lớn trong việc động viên CBCNV nhất là khối hành chính sự nghiệp yên tâm công tác, gắn bó với Ngành.

Trong chính sách xã hội, Ngành không chỉ tìm các biện pháp nâng cao thu nhập mà còn chú ý tới các vấn đề khác như sức khỏe cho cán bộ, nhà ở, việc làm cho con em…, đồng thời còn vận dụng các chế độ chính sách của Nhà nước áp dụng vào ngành Bưu điện như chế độ phụ cấp thâm niên, lưu trú… để thu hút lao động những nơi xa xôi hẻo lánh.

Nhìn lại kế hoạch 5 năm (1986-1990), với đường lối đổi mới của Đảng, được sự ủng hộ giúp đỡ tạo điều kiện của các cơ quan Nhà nước, các Bộ ngành và địa phương, ngành Bưu điện đã nỗ lực vươn lên, quyết tâm chuyển đổi cơ chế, từng bước tháo gỡ khó khăn và đạt được nhiều tiến bộ đáng kể. Trải qua một thời gian kiểm nghiệm càng khẳng định rõ hướng đi, tạo lập được những tiền đề quan trọng khá vững chắc cho những bước phát triển nhanh hơn trong những năm tới và rút ra được những bài học kinh nghiệm bổ ích về tổ chức lại sản xuất, tạo vốn phát triển mạng lưới và hợp tác đầu tư liên doanh với nước ngoài.

Như vậy, giai đoạn 1986-1990 là giai đoạn ngành Bưu điện đổi mới nhanh chóng trong lĩnh vực Bưu chính - Viễn thông. Việc thực hiện chủ trương từng bước đưa kỹ thuật hiện đại vào mạng lưới nhanh chóng nâng cao năng lực, chất lượng thông tin trong nước và quốc tế của ngành Bưu điện đã thực sự đóng góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ cầu nối Bưu điện mà thế giới biết nhiều đến Việt Nam, mở rộng quan hệ hợp tác với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực. Uy tín của ngành Bưu chính-Viễn thông Việt Nam được nâng lên trên trường quốc tế. Những thành quả đạt được trong giai đoạn này đã tạo cơ sở vững chắc để Ngành bước vào thực hiện chiến lược số hóa trong giai đoạn tiếp theo.